WELCOME
Chào mừng quý vị đã ghé thăm
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
@ Tích lũy chuyên môn ( tt )
*Câu 4: Nội dung và phương pháp dạy-học tiết “ luyện tập, luyện tập chung, thực hành, ôn tập” thể hiện trong SGK Toán 2 như thế nào?
Tiết luyện tập, luyện tập chung, thực hành , ôn tập gồm các bài tập, các câu hỏi sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó dần. Mỗi bài tập , câu hỏi đều có phần chỉ dẫn hành động nêu thành “lệnh” và phần thông tin( nội dung chính của bài tập, câu hỏi). Thời lượng dạy học các tiết nàycùng với thời lượng thực hành, luyện tập trong các tiết dạy học bài mới đã góp phần làm cho phần dạy học Toán 2 trở thành dạy học chủ yếu qua thực hành, luyện tập.
Trong Toán 2, đã bước đầu giới thiệu một số bài tập trắc nghiệm có nhiều lựa chọn để HS và cả GV làm quen vơía dạng bài tập mới. Cáh dạy học dạng bài tập này sẽ nêu ở phần “ Đổi mới dánh giá kết quả học tập trong dạy học Toán 2”.
GV cần lưu ý rằng: Không nhất thiết phải yêu cầu tất cả HS làm hết các bài tập trong SGK, VBT. Trong 40 phút của tiết học, nên tập trung giúp HS làm và chữa các bài tập rèn luyện các kĩ năng cơ bản, quan trọng nhất, củng cố thật chu đáo các kiến thức đã học, chỉ khi nào làm được như vậy mới yêu cầu HS (dặc biệt là HS khá .giỏi) làm tiếp các bài tập còn lại, bài tập nào chưa giải quyết xong ở trên lớp thì giải quyết khi HS tqự học.
-Phần lớn các bài tập của SGK Toán 2 tuy không có, không phức tạp nhưng thường chứa đựng nhiều nội dung có thể khai thác , phát triển ở mức độ khác nhau. Sau khi HS thực hiện các yêu cầu cơ bản nhất của từng bài tập; nếu có điều kiện về thời gian Gv nên hướng dẫn HS khai thác chính ccác bài tập của từng tiết học, hết sức tránh hiện tượng bắt HS phải làm thêm nhiều bài ở ngoài SGK, nhất là các bài tập không phù hợp với mục tiêu của tiết học hoặc vượt quá phạm vi cho phép của chương trình.
VD: Với bài tập dạng : Tính: 9+2= 2+9= 11-9= 11-2=
GV chỉ yêu cầu HS viết các phép tính vào vở rồi viết đúng kết quả tính. Nếu Gv muốn HS khai thác thêm bài tập này thì có thể chọn lúc thích hợp ( trong quá trình chữa bài hoặc sau khi đã làm và chữa hết bài tập ở tiết học ..) để giúp HS tự phát hiện ví dụ về một tính chất quan trọng của phép cộng ( chưa gọi tên tính chất này) và phát hiện ra mói quan hệ giữa phép cộng và phép trừ, chẳng hạn:
- GV cho HS nêu nhận xét từ hai phép cộng 9+2=11; 2+9=11 để thấy 2+9 cũng bằng 9+2( vì đều bằng 11) như thế khi biết 9+2=11 thì tìm ngay được kết quả của 2+9 cũng bằng 11 . Lặp đi lặp lại nhiều lần với các dạng bài tập tương tự ở tiết học nàyvà ở các tiết học sau, dần dần HS nhận ra được “ Nếu đổi chổ các số hạng trong phép cộng thì kết quả không thay đổi”.
-GV có thể cho HS nhận xét các phép cộng và các phép trừ trong cột tính:
9+2=11 Để thấy “ lấy tổng trừ đi một số hạng thì tìm được số hạng kia” . Do đó khi
2+9=11 biết 9+2=11 thì có thể nêu ngay được kết quả của phép trừ 11-9 và 11-2 ;
11-9=2 (11-9=2 ; 11-2=9). GV có thể tìm thấy trong SGK Toán 2 rất nhiều bài tập
11-2=9 giúp ích cho sự phát triển năng lực học tập của HS ( đặc biệt là năng lực nhận xét, phát hiện ra cái mới trong khuôn khổ các nội dung đã học và quen thuộc).Vì vậy, trước khi đi tìm các bài tập ở ngoài SGK Toán 2 để cho HS làm thêm, GV hãy cố gắng tìm hiểu và khai thác đúng mức các bài tập có sẵn trong SGK T2.
*Câu 5: Xin nói rõ thêm về “cách nhớ 1” sang hàng chục khi thực hiện phép tính trừ(có nhớ) ở SGK T2 (CTTH mới).
Chẳng hạn phép tính trừ: 53- 28 , ta có 2 cách thực hiện phép trừ “có nhớ” như sau:
53 -3 không trừ được cho 8, lấy 13 trừ 8 bằng 5, viết 5, nhớ 1.
-28 -Nhớ: .Cách 1: 2 thêm 1 bằng 3, 5 trừ 3 bằng 2 ,viết 2.
25 .Cách 2: 5 trừ 1 bằng 4, 4 trừ 2 bằng 2, viết 2.
Trong sách Toán 2(CTTH mới), thực hiện phép trừ có nhớ theo quy tắc nhớ như cách 1. Thực ra đó là giải pháp mang tính quy ước theo cách làm quen thuộc từ lâu nay ở nước ta.Sách Toán 2 không có ý định xây dựng kiến thức để giải thích cơ sở lí luận của cách nhớ đó, mà chỉ là gợi ý chuẩn bị trước kiến thức cho cách nhớ đó qua qua bài tập dạng:
5- 1 -2 = ; 5 -3 =( Bài này gợi ý ở chỗ: 5 trừ 1(nhớ) bằng 4, 4 trừ 2 bằng 2, viết 2 cũng có kết quả như 2 cộng 1 (nhớ) bằng 3, 5 trừ 3 bằng 2, viết 2.
Trong SGK hình vẽ với mũi tên( nét liền) ở bài 53 -28 thực ra là giải thích cơ sở cho cách nhớ thứ 2 (tháo bó 1 chục que tính để có 10 que tính rời, tức là đã lấy 5 bó bớt đi 1 bó còn 4 bó, hay 5- 1 (nhớ) bằng 4.
*Câu 6: Khi sử dụng sách Toán, có bắt buộc HS làm hết các bài tập trong SGK hay không? Nếu có VBT thì HS làm bài tập trong VBT hay làm bài tập trong SGK Toán 2, hay làm cả hai?
a.Trong Toán 2(SGV) đã nêu rõ, tuỳ điều kiện, đối tượng cụ thể HS ở từng lớp, từng trường, từng vùng miền, không bắt buộc HS phải làm hết các bài tập ở trong sách ở mỗi bài học. GV có quyền lựa chọn để định ra “dung lượng” các bài tập phù hợp với trình độ chuẩn để nhằm đạt được tối thiểu mục tiêu của bài học, (nếu sự lược bỏ có ảnh hưởng tới mục tiêu bài học , không đạt mức độ chuẩn về nội dung kiến thức thì không được...Cần phấn đấu làm hết các bài tập quy định trong SGK, đó là tốt nhất, vì SGK cũng đã cố gắng định ra các bài tập vừa với trình độ chuẩn nói chung.)
b.Về vấn đề sử dụng VBT Toán 2, trong phần hướng dẫn đã nêu rõ:
-VBT Toán 2 gồm các bài tập luyện tập, thực hành có cùng nội dung, mức độ như các bài tập trong SGK, chỉ khác về hình thức thể hiện và số liệu. Do đó trong các tiết học Toán, GV có thể hướng dẫn HS làm các bài tập trong vở này thay cho các bài tập ttrong SGK.
-Cách làm bài tập trong vở này cũng giống như cách làm các bài tập trong SGK. Ngoài ra HS còn được làm quen với một số dạng bài tập kiểu mới. Vì vậy các HS đã làm các bài tập trong SGK thì có thể sử dụng VBT này khi tự học hoặc ôn tập.
-Trong cùng 1 buổi học, không nên yêu cầu HS vừa làm các bài tập trong SGK vừa làm các bài tập dạng này trong VBT, gây nặng nề không cần thiết.
*Câu 7: Trong sách Toán 2, phép nhân, phép chia được xây dựng theo cách nào?
-Trong sách Toán 2, phép nhân được xây dựng từ “tổng các số hạng bằng nhau”. Chẳng hạn:
. 2 + 2 +2 +2 +2 = 10 hay 2 x 5 = 10 (2, 5 là các số hạng) hoặc
. 5 + 5 =10 hay 5 x2 = 10 (5 là số hạng, 2 là số hạng)
-Phép chia được xây dựng từ phép nhân (với ý nghĩa là phép tính ngược của phép tính nhân), chẳng hạn: 6 : 2 = 3
Ta có: 3 x 2 = 6 6 : 3 = 2
(Nói thêm : SGK Toán 2 chưa đặt vấn đề xuất phát từ phép trừ để xây dựng phép chia, chẳng hạn: từ : 6 -3 -3 = 0 suy ra : 6 : 3 = 2
hoặc: 6 -2 -2 -2 = 0 suy ra : 6 : 2 = 3 ; ...
*Câu 8: Trong bài “số 1, số 0 trong phép nhân, phép chia” ở sách Toán 2, có những phép tính như: 1 x 2 =2 ; 2 x 1 =2; 0 x 2 =0 ; 2 x 0 =0, có giải thích được kết quả của mỗi phép tính đó không?
-Với các phép tính: 1 x 2 =2; 0 x 2 = 0 có thể giải thích được như sau:
1 x 2 = 1 + 1 = 2 , vậy 1 x 2 = 2
0 x 2 = 0 + 0 = 0 ,vậy 0 x 2 = 0.
- Với phép tính 2 x 1 = 2 ; 2 x 0 = 0 ta có thể giải thích theo ý nghĩa phép nhân mà công nhận kết quả của nó như là một sự quy ước mà thôi ( không nên giải thích do tính chất “ giao hoán”)
Lê Thị Thu Thảo @ 15:13 30/04/2012
Số lượt xem: 714
- @ Tích lũy chuyên môn (30/04/12)
- THSP: Nếu thầy (cô) không dạy được nó... (29/04/12)
- * THSP: Học sinh chê bài giảng của giáo viên (29/04/12)
- * Khi học sinh xé bài kiểm tra (29/04/12)
- * Mẹ ơi, cô giáo ghét con... (29/04/12)
Các ý kiến mới nhất